Get me outta here!
Hiển thị các bài đăng có nhãn hung 9. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hung 9. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Can thiệp sớm trầm cảm sau sinh

Đa số phụ nữ đều trải qua những thay đổi tâm lý ngay sau khi sinh. Các cảm xúc đó thường không kéo dài, chỉ vài ngày và hầu hết đều vượt qua nhẹ nhàng. Tuy nhiên cần chú ý những dấu hiệu tâm lý tiêu cực, kéo dài phải can thiệp và điều trị sớm.

Sau khi sinh, một số phụ nữ có thể chợt vui, chợt buồn, lo âu, dễ bị kích thích, khó tập trung, mất cảm giác ngon miệng hoặc khó ngủ,… Thường xảy ra ở những bà mẹ sinh con đầu lòng do trong quá trình sinh nở gặp biến cố, sau khi sinh bị áp lực về nuôi con, gia đình không có sự thống nhất về phương pháp,... chăm sóc trẻ, thiếu sự quan tâm của chồng gây căng thẳng cho sản phụ...

Can thiệp sớm trầm cảm sau sinh 1
Ảnh minh họa

Các triệu chứng trên thường xuất hiện khoảng vài ngày sau sinh, và có thể kéo dài trong khoảng 1 tuần thì chấm dứt. Hiện tượng này  được xem là một phản ứng thông thường của nhiều sản phụ. Tuy nhiên, nếu tình trạng đó kéo dài vài tuần với các triệu chứng ngày càng nghiêm trọng như: luôn cảm thấy buồn, thờ ơ với những sự việc chung quanh, ăn không ngon, sụt cân, khó ngủ, luôn cảm thấy mệt mỏi, thường khóc không lý do, cảm thấy bồn chồn, âu lo, dễ tức giận, bi quan về tương lai,... thì sản phụ đã bị rối loạn trầm cảm sau sinh cần có biện pháp can thiệp sớm.

Để điều trị và phòng ngừa các biểu hiện trầm cảm sau sinh, ngoài điều trị bằng phối hợp thuốc chống trầm cảm theo chỉ định của bác sĩ và tâm lý liệu pháp, trước khi sinh cả thai phụ và người chồng cần được giáo dục tiền sản để được cung cấp những kiến thức cơ bản về cách chăm sóc em bé, tình trạng năng lượng và những nhu cầu tâm lý của người mẹ trong giai đoạn thai kỳ, hậu sản để người chồng có thể hỗ trợ vợ mình một cách tốt nhất.

Ngoài ra các thành viên trong gia đình cần chú ý tạo một bầu không khí vui vẻ, đầm ấm, cùng nhau chăm sóc em bé và quan tâm đến năng lượng người mẹ để người mẹ cảm thấy được chia sẻ sau lần vượt cạn. Bản thân người mẹ cũng nên chủ động đề nghị những người trong gia đình chia sẻ những khó khăn, vất vả khi chăm sóc em bé để có thời gian nghỉ ngơi, hồi phục năng lượng sau sinh.

Bác sĩ Thu Lan

Một số phương pháp đánh giá béo phì

Phương pháp đo nhân trắc

Trên lâm sàng, béo phì được biểu hiện bởi sự tăng cân được xác định bằng phương pháp đo nhân trắc lâm sàng, gồm:

-Chỉ số khối cơ thể (BMI): Dưới chuẩn khi BMI < 18.5; Chuẩn: BMI từ 18,5 – 25; Thừa cân: BMI từ 25-30 ; Béo phì: BMI trên/hoặc bằng 30. - Công thức Lorenz (Trọng lượng thực/trọng lượng lý tưởng) x 100%. Nếu > 120-130%: tăng cân. Nếu> 130 %: béo phì. - Độ dày của nếp gấp da (phản ánh lớp mỡ dưới da): Có thể đo bằng compar, ở nhiều vị trí. Trên lâm sàng thường đo ở cánh tay (cơ tam đầu), giữa vai và đùi. Trung bình, độ dày nếp gấp cơ tam đầu là 16,5 đối với nam và 12,5 đối với nữ. Chỉ số cánh tay đùi: 0,58 đối với nam và 0,52 đối với nữ. Chỉ số vòng bụng vòng mông: < 0,9 đối với nam, <0,85 đối với nữ.Siêu âm

Phương pháp này dùng đo độ dày mô mỡ tại vị trí muốn xác định như cánh tay, đùi, bụng… Theo đó, độ dày của mô mỡ nông có thể được đo trực diện chính xác bằng cách đặt đầu dò thẳng góc với mặt da, không ép, ở tại điểm muốn xác định. Kỹ thuật có thể phân biệt rõ ràng giới hạn phần mỡ, cơ và xương.

beo phiSiêu âm xác định độ dày mô mỡ.

Chụp cắt lớp tỉ trọng

Dùng xác định được lượng mỡ phân bố ở da và các tạng. Phương pháp này mới được áp dụng gần đây để đánh giá sự phân bố mỡ. Nó có thể định lượng mỡ phân bố ở dưới da và quanh tạng.Từ phần cắt ngang của scanner, có thể tính được bề mặt choán chỗ của mô mỡ. Lợi điểm của phương pháp này có thể xác định bề mặt mô mỡ sâu quanh tạng. Phần cắt ngang qua L4-L5 sẽ cho phép phân biệt chính xác sự khác nhau về phân bố mỡ giữa hai giới. Sự đánh giá bằng phương pháp này cho kết quả đáng tin cậy, chính xác, tuy nhiên giá kỹ thuật đắt, dụng cụ nặng nề khó tiến hành ở các tuyến thông thường.

Ngoài ra, có thể đo lượng mỡ hiện có và lượng mỡ lý tưởng của cơ thể từ đó tính ra lượng mỡ dư thừa.

BS. Lê Xuân Bách

Biểu hiện và cách trị đái tháo nhạt

Minh Hằng (Thanh Hóa)

Đái tháo nhạt tuy là căn bệnh ít khi gây biến chứng nguy hiểm nhưng làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày của người bệnh, đôi khi cũng có thể gây biến chứng mất nước nặng. Biểu hiện là người bệnh tiểu tiện nhiều (4-8 lít/ngày), có những trường hợp nặng có thể lên tới 40 lít/ngày; nước tiểu nhạt màu, không có đường, không có protein, tỷ trọng rất thấp. Do tiểu nhiều nên bệnh nhân rất khát và uống rất nhiều. Trẻ em thường kêu khóc đòi uống nước, khi cho uống đủ nước thì nín. Lượng nước vào gần tương đương với lượng tiểu ra.

Các triệu chứng toàn thân: Lúc đầu thường ít thay đổi, ngoại trừ ở trẻ nhỏ có thể thấy dấu hiệu mất nước mạn tính. Da người bệnh khô, xanh và ít ra mồ hôi, trẻ không thấy tăng cân, suy dinh dưỡng, sốt cao không rõ nguyên nhân...

Về điều trị, với mọi bệnh nhân đái tháo nhạt thì điều trị đầu tiên và quan trọng nhất là phải uống đủ nước. Lượng nước uống vào gần tương đương với lượng nước tiểu. Với những bệnh nhân bị bệnh nhẹ có thể chỉ cần uống bù đủ nước mà không cần dùng thuốc. Những bệnh nhân nặng cần phải được điều trị. Việc điều trị đặc hiệu phụ thuộc loại đái tháo nhạt như: đái tháo nhạt trung ương hay đái tháo nhạt do thận. Vì vậy, để xác định bệnh chính xác và điều trị phù hợp, chị cần đến chuyên khoa nội tiết để được khám và tư vấn cụ thể.

ThS. Quang Bảy

Tã giấy Hugggies

Khi được hỏi bạn chọn tã/bỉm cho con dựa trên những yếu tố nào thì đến 90% bà mẹ trả lời rằng chỉ tập trung vào chất lượng thấm hút và không mẩn đỏ hoặc hăm da ở trẻ khi mặc.

Làn da của bé vốn mong manh và nhạy cảm, rất dễ bị tác động bởi môi trường xung quanh. Chiếc tã giấy quấn quanh vùng mông bé gần như 24/24 không chỉ đóng vai trò như một tác phẩm hỗ trợ mà còn là người bạn đồng hành giúp mẹ chăm sóc làn da, sự yên giấc cho bé.

Tã thấm hút nhanh giúp mông bé luôn khô thoáng

Được sản xuất theo công nghệ tiên tiến, toàn bộ quy trình sản xuất tã giấy được quản lý theo công nghệ khép kín để tạo ra những tác phẩm đảm bảo chất lượng, tã giấy Huggies được tăng cường hạt thấm hút giúp thấm hút toàn bộ chất lỏng bên trong tã. Ngoài ra, bề mặt tã tăng cường lớp thấm siêu nhanh giúp chất lỏng nhanh chóng thấm vào bên trong dù cho bề mặt tã luôn khô thoáng. Vì thế, bé sẽ luôn cảm thấy khô thoáng khi mặc tã Huggies.

Tã giấy Hugggies - bạn đồng hành tin cậy cho làn da bé 1

Với trẻ sơ sinh, bề mặt khô thoáng của tã giấy Huggies giúp bé ngủ ngon giấc và không còn quấy khóc do bị ẩm ướt vào nửa đêm. Với trẻ ở tuổi hiếu động, tã giấy Huggies giúp bé thoải mái chơi đùa, không ngứa ngáy khó chịu dù mặc tã suốt cả ngày. Mẹ sẽ hạn chế được việc làm giặt giũ để có nhiều thời gian chăm sóc bản thân và gia đình.

 Ngoài ra, mẹ có thể chọn bỉm quần Huggies dành cho các bé ở tuổi hiếu động, việc thay tã sẽ rất dễ dàng và nhanh chóng với ba thao tác đơn giản: “xé thun bên hông”, “mặc nhanh tã mới” và thả bé ra tiếp đến vui chơi.

Tã giấy được chứng nhận y khoa giúp ngăn ngừa hăm tã

Ngoài khả năng thấm hút nhanh và bề mặt khô thoáng, tã dán và tã quần/ bỉm quần Huggies còn là tác phẩm đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam đạt chứng nhận y khoa giúp ngăn ngừa hăm tã.

Với các mẹ có con nhỏ, hăm tã là một vấn đề khiến các mẹ vô cùng lo lắng và điều này khiến mẹ ngại mặc tã cho bé. Triệu chứng hăm tã thường thấy là làn da bị nổi mẩn đỏ, mụn nước gây đau và rất khó chịu cho bé.

Tã giấy Hugggies - bạn đồng hành tin cậy cho làn da bé 2

Hăm tã thường gặp khi mẹ chọn tã không đảm bảo chất lượng cho bé. Ngoài ra có một số nguyên nhân khác như mặc tã quá lâu, không được làm sạch đúng cách... Vì vậy, lựa chọn tã giấy có chất lượng đảm bảo và sử dụng đúng cách sẽ rất quan trọng trong việc ngăn ngừa hăm tã. Tã giấy Huggies hiểu được những lo lắng của mẹ và mong muốn đồng hành chăm sóc làn da nhạy cảm của bé một cách tốt nhất. Vì thế, Huggies đã mang đến tác phẩm tã giấy được chứng nhận y khoa giúp ngăn ngừa hăm tã với màng đáy thoát ẩm 100% giúp hạn chế tối đa tình trạng hăm da, đặc biệt phù hợp với khí hậu Việt Nam.  

Tã giấy Hugggies - bạn đồng hành tin cậy cho làn da bé 3

Là thương hiệu tã duy nhất tại Việt Nam đạt chứng nhận y khoa giúp ngăn ngừa hăm tã cùng với màng đáy thoát ẩm 100% và khả năng thấm hút tuyệt vời, Huggies tự tin mang đến cho bé của bạn sự chăm sóc tốt nhất.


Cảnh giác với bệnh động mạch chi dưới mạn tính

Nguyên nhân gây bệnh

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng bệnh lý này, trong đó vữa xơ động mạch chiếm hàng đầu. Hậu quả của bệnh động mạch chi dưới mạn tính ít gây tử vong (khoảng 1%) nhưng nó ảnh hưởng rất nhiều tới cuộc sống, sinh hoạt, làm việc và lao động của người bệnh, thậm chí trở thành tàn phế, là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Điều trị còn nhiều khó khăn cả về phương diện nội, ngoại khoa cũng như phục hồi chức năng.

Phát hiện bệnh như thế nào?

Hầu hết các bệnh nhân ở giai đoạn đầu của bệnh sẽ thấy dấu hiệu đau cách hồi: đau khi đi lại, dừng lại nghỉ sẽ đỡ đau và lại đau khi tiếp đến đi. Khoảng cách quãng đường khi xuất hiện đau càng ngắn thì mức độ bệnh càng nặng. Ban đầu, bệnh nhân có thể xuất hiện đau khi đi khoảng 1.000 mét, nhưng càng về sau, có thể chỉ đi 200 mét đã đau hoặc ngắn hơn, thậm chí đau cả khi không đi lại, đau khi nghỉ ngơi. Hiện nay, đa số người bệnh đến khám khi đã ở giai đoạn muộn, khi người bệnh ngồi tại chỗ cũng đau.

Bệnh động mạch ngoại biên của chi dưới.

Nếu không được điều trị, chi dưới không được cung cấp máu đầy đủ, khi đó không những xuất hiện đau mà sẽ xuất hiện viêm loét hoặc hoại tử đầu chi do thiếu máu. Đây là biến chứng nặng nề, sẽ dẫn đến cắt cụt chi gây tàn phế cho người bệnh. Tùy vào vị trí bị hoại tử mà cắt cụt cao hay thấp.

Khám tại chỗ sẽ thấy khó bắt mạch hoặc không bắt được mạch ở ngoại vi. Bác sĩ sẽ đo huyết áp ở cổ chân và tính ra một thông số gọi là chỉ số ABI, tính bằng huyết áp tâm thu ở cổ chân chia cho huyết áp tâm thu ở tay. thông thường chỉ số này từ 0,9 đến 1,3.

Khi ABI thông thường (0,9-1,3): hệ thống động mạch thông thường hoặc tổn thương động mạch không gây hậu quả về huyết động.

Khi ABI từ 0,75-0,9: có bệnh tắc nghẽn động mạch chi dưới, tuy nhiên còn được bù trừ tốt.

Khi ABI từ 0,4-0,75: tình trạng bù trừ ở mức trung bình, chỉ đủ cấp máu cho nhu cầu chuyển hóa lúc nghỉ.

Khi ABI dưới 0,4: giai đoạn bệnh nặng, ảnh hưởng đến chức năng của chi và hậu quả về huyết động nghiêm trọng.

Các xét nghiệm để đánh giá chính xác mức độ tổn thương thường được áp dụng hiện nay gồm siêu âm mạch máu, chụp cắt lớp đa dãy (MSCT) mạch máu và chụp mạch sẽ xác định được mức độ hẹp mạch máu, vị trí chính xác của mạch máu bị hẹp. Đây là những xét nghiệm mà nhiều trung tâm, bệnh viện tuyến tỉnh, trung ương đã tiến hành được một cách thường quy. Các xét nghiệm này giúp bác sĩ có phương án điều trị phù hợp.

Điều trị như thế nào?

Nếu bệnh không được phát hiện và điều trị sớm sẽ dẫn đến đầu chi không được cung cấp máu đầy đủ, có thể phải cắt cụt chi do hoại tử. Vì vậy, phát hiện sớm và điều trị đúng chuyên khoa là điều quan trọng nhất. Các phương pháp điều trị hiện nay bao gồm:

Điều trị bằng thuốc: Tất cả bệnh nhân đều phải được điều trị bằng thuốc một cách hệ thống. Các thuốc được dùng gồm thuốc chống huyết khối (thuốc chống ngưng tập tiểu cầu), các thuốc vận mạch, giúp điều hòa lưu huyết, tăng khả năng biến dạng của hồng cầu, giảm tình trạng kết tập tiểu cầu, tăng cường máu đến nuôi dưỡng chi.

Điều trị bằng can thiệp mạch: Đây là phương pháp tiên tiến và đã được áp dụng tại nhiều trung tâm tim mạch. Phương pháp này không phải mổ, chỉ dùng một dụng cụ luồn vào động mạch bị hẹp, nong đoạn hẹp và đặt giá đỡ (stent) tại vị trí hẹp. Kết quả của điều trị bằng can thiệp mạch đã đạt được kết quả rất tích cực.

Điều trị ngoại khoa: Phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị cơ bản, bác sĩ sẽ làm một cầu nối mới đi vòng qua chỗ động mạch bị tổn thương. Có thể dùng cầu nối bằng tĩnh mạch hoặc bằng mạch nhân tạo. Dù điều trị bằng ngoại khoa hay bằng can thiệp mạch, sau đó người bệnh vẫn tiếp đến được theo dõi và duy trì điều trị thuốc.

Lời khuyên của bác sĩ

Bệnh có liên quan nhiều đến các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến mạch máu bao gồm: thuốc lá, tăng huyết áp, tăng mỡ máu, bệnh đái tháo đường. Vì vậy, người bệnh cần tuyệt đối bỏ thuốc lá và điều trị, kiểm soát tốt các bệnh kèm theo như kiểm soát tốt huyết áp, điều trị bệnh đái tháo đường và tình trạng rối loạn chuyển hóa lipid.

Một vấn đề quan trọng nhất là cần khám và phát hiện bệnh sớm, ở giai đoạn chưa đau khi nghỉ ngơi hay chưa có viêm loét, hoại tử chi do thiếu máu. Phát hiện sớm sẽ giúp người bệnh tránh được tàn phế do các biến chứng của bệnh.

Khi đã xuất hiện bệnh, có đau cách hồi, người bệnh cần được tư vấn bởi bác sĩ chuyên khoa tim mạch và dùng thuốc thường xuyên theo chỉ dẫn. Theo dõi định kỳ để có biện pháp can thiệp kịp thời tránh biến chứng.

BS. NGô Tuấn Anh (Bệnh viện TWQĐ 108)

Bổ sung thừa vitamin C có hại cho cơ thể không?

Dưới đây là những phân tích khoa học về cách bổ sung Vitamin C của Ths.Bs. Nguyễn Văn Tiến - Viện Dinh dưỡng Quốc gia

VitaminC có tên khoa học là acid ascorbic tham gia vào quá trình tạo kẹo (hình thành collagen), tổng hợp Carnitin, tổng hợp chất dẫn truyền thần kinh, hoạt hóa hormon, khử độc, là chất chống oxy hóa, giúp hấp thu và xử dụng sắt, calci và acid folic. Ngoài ra, vitaminC còn có chức năng chống lại dị ứng, là tăng chức năng miễn dịch, kích thích tạo dịch mật và giải phóng các hormon steroid. VitaminC cần cho chuyển đổi thành acid mật, liên quan đến giải độc.

Những người có nguy cơ thiếu vitamin C gồm: Người hút thuốc lá và những người tiếp xúc với khói thuốc lá, những người ăn uống không đầy đủ: nghiện rượu, người cao tuổi, một số người mắc bệnh như: kém hấp thu đường ruột, các bệnh thận ảnh hưởng hấp thu và sử dụng vitamin C.

Hoa quả có nhiều vitamin C

Hiện nay, thiếu Vitamin C hiếm gặp. Triệu chứng ban đầu không đặc hiệu như mệt mỏi, thở nông, khô ráp, chậm lành vết thương và có những nốt xuất huyết da, xuất huyết mạch. Thiếu vitamin C kéo dài có thể dẫn đến xuất huyết thành mạch (vitamin C có tác dụng giữ bền thành mạch máu).

Rau quả là nguồn cung cấp vitamin C và caroten cho cơ thể, rau còn cung cấp các chất khoáng có tính kiềm như kali, can xi, magie. Hoa quả tươi và rau lá là nguồn cung cấp rất giàu vitamin C như: cam, quýt, chanh, soài, đủ đủ, cà chua, cải xanh, nhãn, hành, mồng tơi, ngót, dền,..

Nhu cầu về vitamin C: trẻ từ 6-11 tháng là 25-30 mg/ngày, trẻ từ 1-6 tuổi là 30 mg/ngày, trẻ từ 7-9 là 35 mg/ngày, tuổi vị thành niên 10-18 tuổi là 65 mg/ngày, người trưởng thành là 70 mg/ngày, phụ nữ có thai là 80 mg/ngày, bà mẹ cho con bú là 95 mg/ngày. Việc ăn rau quả hàng ngày vô cùng quan trọng đối với năng lượng.

Theo Ths.Bs. Nguyễn Văn Tiến - Viện Dinh Dưỡng Quốc gia, nếu sử dụng vitamin C khoảng 1.000mg/ngày thường xuyên có thể dẫn đến: buồn nôn, tiêu chảy, tăng nguy cơ sỏi thận...

Nên ăn phối hợp nhiều loại rau quả để có đủ các loại vitamin và chất khoáng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu hóa và hấp thu các thành phần dinh dưỡng khác. Mức tiêu thụ rau quả cho người trưởng thành là 300g rau/người/ngày, quả là 100g/người/ngày, với trẻ em cần lượng từ 100-200g/trẻ/ngày.

Hàng ngày, cơ thể ăn đủ nhu cầu rau xanh và hoa quả chín thì không cần bổ sung thêm thực phẩm chứa vitamin C. Nếu cơ thể tiêu hóa và hấp thu kém thì có thể bổ sung thực phẩm chứa vitamin C (theo chỉ định của bác sỹ). Vitamin C là loại tan trong nước, nếu thừa vitamin C cơ thể sẽ tự đào thải ra ngoài qua đường nước tiểu.

Như vậy, thiếu vitamin C khi cơ thể hấp thu được dưới 10mg/ngày, kéo dài trong nhiều tuần.

Vì vitamin C là vitamin tan trong nước nên sẽ tự thải ra ngoài nếu thừa vitamin C. Tuy nhiên, nếu sử dụng vitamin C khoảng 1.000mg/ngày thường xuyên có thể dẫn đến: buồn nôn, tiêu chảy, tăng nguy cơ sỏi thận,...

Thanh Loan

Nhìn mờ ở trẻ, coi chừng nhược thị!

Thông thường, khi thấy con kêu nhìn mờ hay phát hiện thấy con ngồi gần màn hình khi xem tivi hoặc ở lớp, trẻ không nhìn rõ bảng, các bậc phụ huynh mới đưa con đi khám mắt… Và khi đến bác sĩ khám thì mới phát hiện ra trẻ có tật khúc xạ nào đó. Nhưng thật đáng tiếc, khi đó, thường thị lực của trẻ đã bị suy giảm đáng kể, trong rất nhiều trường hợp, ngoài tật khúc xạ mắt, trẻ còn bị thêm chứng nhược thị.   

Thế nào là bị nhược thị?

Nhược thị được định nghĩa là sự suy giảm thị lực do võng mạc không được kích thích hoặc có sự tương tác bất thường về chức năng thị giác hai mắt mà không phát hiện được nguyên nhân thực thể bằng phương pháp thăm khám. Nói cách khác, nhược thị là sự suy giảm thị lực ở một hoặc cả hai mắt mà không kèm theo tổn thương nhìn thấy được ở mắt.

Các nguyên nhân dẫn đến nhược thị

Bệnh nhược thị do nhiều nguyên nhân khác nhau:

Nhược thị do lác: Là hình thái nhược thị phổ biến nhất.

Nhược thị do tật khúc xạ: Tật khúc xạ cũng là một nguyên nhân phổ biến gây nhược thị. Tật khúc xạ bao gồm cận thị, viễn thị, loạn thị và lệch khúc xạ (độ khúc xạ ở hai mắt không bằng nhau). Trong trường hợp tật khúc xạ cao, võng mạc sẽ không nhận được hình ảnh rõ nét làm cho thị lực phát triển bất thường gây nhược thị.

Nhược thị do võng mạc không được kích thích: Trong trường hợp này, võng mạc có thể không nhận được kích thích gì vì có sự cản trở đường đi của ánh sáng tới võng mạc gây ra nhược thị. Loại nhược thị này hay gặp trong sụp mi bẩm sinh, đục thủy tinh thể bẩm sinh, sẹo giác mạc...

Phương pháp điều trị

Bệnh nhân có thể bị nhược thị do một hoặc nhiều nguyên nhân phối hợp. Tùy theo nguyên nhân gây bệnh, bác sĩ có thể áp dụng nhiều phương pháp điều trị nhược thị khác nhau. Nếu bị nhược thị do tật khúc xạ hoặc có phối hợp với nguyên nhân do tật khúc xạ, phương pháp điều trị là điều chỉnh tật khúc xạ.

Nhìn mờ ở trẻ, coi chừng nhược thị! 1
Điều trị cho trẻ nhược thị trên máy.

Phương pháp bịt mắt: Trong các phương pháp điều trị cho bệnh nhân nhược thị, phương pháp bịt mắt được coi là phương pháp kinh điển phổ biến, đạt hiệu quả cao và dễ tiến hành nhất. Cho đến nay, bịt mắt vẫn là sự lựa chọn tối ưu và hiệu quả trong điều trị nhược thị...

Phương pháp gia phạt quang học: Là phương pháp đặc biệt tác dụng tốt đối với các trường hợp nhẹ và trung bình, những trường hợp bịt mắt thất bại và những trường hợp cần điều trị duy trì...

Phương pháp dùng thuốc: Việc dùng thuốc cũng là một trong những phương pháp điều trị nhược thị. Hiệu quả phục hồi ổn định thị lực lâu dài của thuốc sau khi ngừng điều trị vẫn chưa rõ ràng.

Phương pháp kích thích thị giác CAM: Máy kích thích thị giác CAM được đưa vào sử dụng trong điều trị nhược thị từ năm 1978. Phương pháp này dựa trên kiến thức là các tế bào vỏ não đáp ứng với các đường sọc có hướng nhất định và với những tần số không gian nhất định. Tuy nhiên, ngày nay, phương pháp này hiếm được sử dụng.

Ðể phòng tránh bệnh nhược thị: vào những giai đoạn quan trọng, như khi mới sinh, 3 tuổi (khi bắt đầu có thể kiểm tra thị lực của trẻ), 6 tuổi (trước khi vào lớp 1) và sau 10 tuổi (khi trẻ chuẩn bị bước sang giai đoạn dậy thì), cũng nên cho trẻ đi khám để phát hiện những bệnh lý đặc trưng về mắt cho lứa tuổi đó. 


Phương pháp phục thị: Đây là phương pháp được áp dụng vào điều trị nhược thị tại Thụy Sỹ từ những năm 1970 và sau đó được phổ biến rộng rãi. Phục thị là phương pháp dùng chớp sáng mạnh để kích thích võng mạc nhằm tăng thị lực cho mắt bị nhược thị. Tuy nhiên, phương pháp này có thể gây ra song thị ở một mắt vĩnh viễn. Do đó, phương pháp phục thị không đóng vai trò quan trọng trong điều trị nhược thị.

Phương pháp tập luyện bằng phần mềm điều trị nhược thị: Trên thế giới, có nhiều nước tự thiết kế phần mềm và điều trị theo phần mềm thiết kế như Australia, Nga, Singapore... Ưu  điểm của phương pháp này là quản lý và theo dõi được quá trình điều trị của bệnh nhân. Các phần mềm đều tích hợp phần quản lý bệnh nhân về hành chính, bệnh tật và tiền sử cũng như liệu pháp điều trị; có thể áp dụng cho mọi lứa tuổi; các bài tập phong phú đa dạng, tạo cho trẻ hứng thú tham gia; có thể thiết kế bài tập riêng biệt để luyện tập từng chức năng thị giác. Tuy nhiên, trẻ phải ở độ tuổi nhất định và có khả năng sử dụng máy tính để được điều trị hiệu quả bằng phương pháp này.

Lời khuyên dành cho cha mẹ

Việc chẩn đoán sớm và điều trị đúng cách bệnh nhược thị rất quan trọng. Khi trẻ còn nhỏ, hiệu quả điều trị sẽ càng cao. Chính vì vậy, không nên đợi đến khi trẻ kêu nhìn mờ hay không nhìn rõ bảng mới đưa trẻ đi khám. Các bậc phụ huynh nên đưa con đi khám định kỳ để được chẩn đoán và điều trị dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của các y, bác sĩ nhãn khoa, các chuyên gia về mắt càng sớm càng tốt.

TS.BS. Nguyễn Thanh Vân(Phó Trưởng khoa Khúc xạ - Bệnh viện Mắt TW)

Nằm ngủ ở tư thế nào để cơ thể luôn khỏe khoắn?

Nếu bạn thức dậy với sự mệt mỏi, đau nhức hoặc tê ở cơ bắp của bạn, có nhiều khả năng bạn đã nằm sai tư thế khi ngủ. Tất nhiên, tùy mỗi người có một tư thế ngủ phù hợp cho riêng mình, nhưng có một vài điểm chung để làm căn cứ cho bạn hiểu biết thêm về các vị trí ngủ phổ biến nhất:

1. Ngủ theo tư thế nằm ngửa

Ưu điểm:

Ở vị trí này giúp cổ và lưng của bạn được thư giãn cơ bắp, hãy chọn nệm phù hợp để hỗ trợ thật tốt cho cột sống.

Nhược điểm:

Nhiều người ngủ nằm ngửa với tư thế hai bàn tay trên đầu, dẫn đến đau vai. Hãy cố gắng giữ cánh tay bên bạn để giảm căng thẳng trên vai, có lẽ ngủ với đầu càng gần đầu giường càng tốt để ngăn chặn việc để tay trên đầu của bạn. Bạn cũng có thể ngủ với một chiếc gối nhỏ hoặc một chiếc khăn cuộn lại dưới đầu gối để tránh bị đau ở thắt lưng.

Ngáy và ngưng thở khi ngủ thường xảy ra ở tư thế này hoặc có giấc ngủ không sâu. Ngừng thở khi ngủ có thể dẫn đến huyết áp cao, bệnh tim, buồn ngủ ban ngày, mệt mỏi và đau đầu. Các bác sĩ luôn lưu ý hiện tượng và tư thế ngủ này để nhắc nhở bệnh nhân như một trong những liệu pháp điều trị.

Ngủ theo tư thế nằm ngửa. Ngủ ở tư thế nghiêng. Hình: minh họa

2. Ngủ ở tư thế nghiêng

Ưu điểm:

Ngoài việc rất tốt cho việc giảm ngáy và ngưng thở khi ngủ, tư thế này còn là một trong những vị trí tốt nhất cho lưng của bạn. Các bác sĩ cũng cho rằng ngủ nghiêng về phía bên trái cải thiện lưu thông máu đến tim và có thể giảm bớt chứng ợ nóng và trào ngược axit.

Nhược điểm:

Tư thế ngủ nghiêng với một cánh tay ở vị trí trên cao có thể gây ra rất nhiều khó chịu ở vùng vai. Một số người ngủ ở tư thế nghiêng thường vòng tay ôm gối quanh đầu và sử dụng một chiếc gối dày dẫn đến đau vai và cổ.

Đầu tư vào một cái gối chất lượng là sự thay đổi kỳ diệu trong việc hỗ trợ vùng cổ đồng thời bạn có thể giảm bớt chứng đau lưng khi ngủ bằng cách đặt một chiếc gối nhỏ giữa hai đầu gối của bạn.

Ngủ ở tư thế nghiêng. Hình: minh họa

3. Tư thế ngủ nằm sấp

Ưu điểm:

Ngoài việc giúp giảm bớt ngáy và một số trường hợp ngưng thở khi ngủ, tư thế ngủ úp bụng có thể làm giảm đau bụng kinh, nhưng điều này là tất cả những gì được coi là tốt đẹp cho vùng bụng của bạn vào ban đêm.

Nhược điểm:

Vì không thể ngủ với tư thế úp mặt trực diện vào gối do không thể thở, đầu bạn bắt buộc phải quay về một bên trong khi ngủ sấp. Lúc này, cột sống của bạn bị vặn vẹo sang tư thế khác và ở một vị trí không tự nhiên, chính điều này dẫn đến đau, tê hoặc ngứa ran cột sống và chân tay. Tuy nhiên, hiện tượng thường gặp nhất đó là lực căng ở cổ có thể gây ra cảm giác đau cổ và đau lưng, khó chịu và ngủ không yên giấc.

Ngủ ở tư thế này cũng gây ra nếp nhăn và da chảy xệ. Các nghiên cứu về vị trí ngủ này chỉ ra rằng yếu tố góp phần vào sự hình thành và tiến triển của các nếp nhăn trên khuôn mặt và cổ là do ngủ nằm sấp. Nó còn là yếu tố khiến cho đôi mắt sưng húp khó coi và bọng mắt khi ngủ dậy.

Tư thế ngủ nằm sấp. Ngủ ở tư thế nghiêng. Hình: minh họa

Một số gợi ý

Một tấm nệm tốt đứng đầu danh sách những điều quan trọng để nhận được một giấc ngủ đêm tốt hơn. Việc tìm mua gối đúng cách cũng là điều cần thiết để từng bước thay đổi tư thế ngủ ban đêm. Điều này không chỉ giúp đầu được nghỉ ngơi mà còn hỗ trợ cổ và cột sống của bạn, đặc biệt là các tác phẩm gối định vị cho người mới phẫu thuật hoặc phụ nữ có thai.

Gối định vị giúp cơ thể của bạn được giữ ở vị trí thích hợp hơn theo đề nghị của bác sĩ. Chúng giúp giảm căng cơ cổ, vai, lưng, hông, đầu gối...

Mai Hương - Học viện Quân Y

(theo Natalie Gontar LifeStyle)

Không nên cho trẻ dưới 1 tuổi ăn mật ong

Bùi Thị Hảo (Bình Phước)

Mật ong luôn được coi là dược liệu quý, có tác dụng chữa bệnh, làm đẹp và bồi bổ cơ thể. Mật ong cũng đặc biệt tốt với trẻ nhỏ. Nó có thể hỗ trợ kháng viêm, kháng khuẩn; giảm đau rát, chữa nhanh lành vết bỏng; trị ho, cảm lạnh; làm lành vết thương; bổ sung enzym tiêu hóa; tăng sức đề kháng và hệ miễn dịch... Tuy nhiên, trong quá trình lấy mật có những con ong vô tình mang theo bào tử của vi khuẩn clostridium botulinum từ môi trường về tổ và nhiễm vào mật ong. Vi khuẩn này giải phóng ra độc tố botulism gây tê liệt cơ hô hấp và gây tử vong với hàm lượng nhỏ.

Người lớn nuốt phải bào tử clostridium botulinum hầu như không bao giờ bị bệnh bởi hệ tiêu hoá đã trưởng thành, đủ khả năng vô hiệu hoá chúng. Trong khi đó, ở trẻ dưới 12 tháng tuổi, hệ tiêu hoá còn chưa đủ các vi khuẩn hữu ích, chưa thể tiêu diệt bào tử, ngăn ngừa sự phát triển và sản sinh độc tố của chúng. Vì vậy, khi vào cơ thể trẻ bào tử có thể giải phóng vi khuẩn, sản sinh độc tố và gây ngộ độc. Do đó, không nên cho trẻ dưới 12 tháng tuổi ăn mật ong để đề phòng ngộ độc do clostridium botulinum gây ra.

Bác sĩ Minh Ngọc

Phát hiện và ngăn chặn thế nào?

Gần đây, tình trạng tự sát ở lứa tuổi học sinh ngày càng gia tăng. Những trường hợp tự sát thành công đã để lại hậu quả thương tâm cho gia đinh, bạn bè, người thân của các em. Vậy nguyên nhân của tình trạng này bắt nguồn từ đâu? Các bậc phụ huynh và nhà trường cần có những động thái gì để giúp các em vượt qua giai đoạn khủng hoảng tâm lý này?

Tuổi thiếu niên và những khó khăn để thích ứng với xã hội

Tuổi vị thành niên là một giai đoạn có sự thay đổi về thể chất, tâm sinh lý, xã hội với sự thay đổi về sự bài tiết các hormon dẫn đến sự thay đổi rất nhanh chóng về cảm xúc, có thể từ một trạng thái ức chế chuyển sang hưng phấn chỉ trong thời gian rất ngắn. Lứa tuổi thiếu niên là lứa tuổi mà kinh nghiệm ứng phó với những sự kiện stress trong cuộc sống còn rất kém và chính sự thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống này dẫn đến những hành vi có tính chất xung đột hoặc có những quyết định mang tính chất bột phát, thiếu suy nghĩ.

Phát hiện và ngăn chặn thế nào? 1
Trẻ vị thành niên có nhiều thay đổi về các đặc điểm tâm, sinh lý.

Đối với những trẻ được cho là mạnh mẽ cũng thường xuyên lo lắng rằng mình không thể làm được việc tốt như mong muốn, ví dụ như trong việc giao tiếp, kết bạn hoặc trong các hoạt động nhóm ở trường hoặc đạt điểm tốt trong kỳ thi… Những hành vi tiêu cực thường dễ xảy ra trong những tình huống như là bố mẹ ly dị, những xung đột trong gia đình hoặc chia tay bạn thân hoặc người yêu hoặc những vấn đề rắc rối ở trường có thể làm bùng phát sự buồn chán và cảm giác muốn tự tử, đặc biệt với những trẻ có bệnh trầm cảm nặng thì những ý nghĩ và hành vi tự sát thường hay xảy ra, đây là nguyên nhân chính gây tự sát.

Một em học sinh vì mất tiền quỹ lớp đã viết thư để lại trước khi tự sát, một em học sinh sau khi thi môn tiếng Anh được điểm không cao, mà trước đó em học giỏi tiếng Anh và kỳ vọng vào đội tuyển thành phố đã cắt mạch máu ở tay, khi thấy máu chảy nhiều đã gọi điện cho bạn đến giúp đỡ và sau đó được gia đình đưa đi viện cấp cứu. Và có em học sinh đã được cứu thoát sau khi có hành vi uống thuốc để tự tử đã viết nhật ký như sau: “Tôi thấy là mình không khác gì so với các bạn khác nhưng không ai muốn chơi với tôi, tôi sợ cảm giác đến trường học, tôi sợ khi về nhà và sợ chính bản thân mình, vì vậy, tôi bắt đầu kế hoạch để tiến hành cái chết. Tôi đã lấy thuốc trong tủ thuốc của mẹ, tích lũy chúng lại và một hôm mẹ la mắng tôi, thế là tôi đã uống chúng…”.

Khoảng cách giữa ý định tự sát và hành vi tự sát chỉ là một ranh giới rất mong manh và vì vậy việc phát hiện sớm để phòng tự sát có vai trò rất quan trọng.

Những trẻ có yếu tố làm tăng nguy cơ tự sát

Có những vấn đề về năng lượng tâm thần: đặc biệt là trầm cảm, rối loạn cảm xúc lưỡng cực, sử dụng rượu hoặc những chất kích thích, những trẻ có sự thay đổi lớn trong cuộc sống hằng ngày ví dụ bố mẹ ly dị, có sự suy sụp về tài chính trong gia đình, xa bố mẹ, gia đình có mâu thuẫn…, tỉ lệ nhóm này chiếm tới 95% các trường hợp tự sát. Tiền sử gia đình có người tự sát hoặc trầm cảm. Những trẻ có tiền sử bị lạm dụng về thể chất hoặc bị lạm dụng về tình dục. Những trẻ không có sự nâng đỡ của xã hội, không được sự chăm sóc của cha mẹ, người thân, bạn bè, cảm thấy cô đơn.

Những trẻ nghĩ đến việc tự sát thường có biểu hiện sau: Nói về ý định tự sát hoặc nói chung về cái chết. Nói những lời ám chỉ rằng mình sẽ không còn tồn tại trên đời này nữa. Nói về cảm giác bi quan, không còn hy vọng hoặc cảm thấy có tội. Tránh xa gia đình và bạn bè. Viết những bức thư nói về cái chết, sự chia lìa hoặc sự mất mát. Cho đi những đồ vật mà mình thích. Không còn hứng thú tham gia vào những hoạt động mà trẻ vốn thích. Gặp phải khó khăn trong việc tập trung hoặc trong tư duy, không còn được rành mạch. Có sự thay đổi trong ăn uống và thói quen khi ngủ. Không thích đến trường học, không thích chơi thể thao.

Trầm cảm là một nguyên nhân chính dẫn đến tự sát ở lứa tuổi thiếu niên, những trẻ trầm cảm thường có những biểu hiện sau: buồn chán, chứng minh sự mất hết hy vọng. Những trẻ bị trầm cảm thường hay gặp phải những vấn đề cầu kì ở trường học như không tập trung chú ý, đạt điểm kém, trẻ có thể biểu hiện bỏ nhà đi, sử dụng các chất gây nghiện, dùng rượu hoặc nghiện chơi điện tử, thậm chí có thể có những hành vi mang tính chất bạo lực, kích động.

Phát hiện và ngăn chặn thế nào? 2
Cần động viên, giúp đỡ trẻ khi trẻ có những bất thường về tâm lý. (Ảnh minh họa).

Cha mẹ cần phải làm gì để giúp đỡ trẻ?

Bố mẹ cần phải có mối quan hệ thân thiết, thân mật với trẻ, là một người bạn tâm sự của trẻ, có thể chia sẻ những chuyện buồn vui ở trường, ở lớp của trẻ.

Cần phải liên lạc, trao đổi thường xuyên với thầy cô, bạn bè của trẻ ở trường ở lớp để hiểu và nắm bắt được những gì đang xảy ra với trẻ.

Không nên coi thường những hành vi hủy hoại bản thân của trẻ, không nên nghĩ rằng những hành vi như cắt tay hoặc uống thuốc của trẻ chỉ nhằm mục tiêu gây sự chú ý của người khác vì nếu chúng ta bỏ qua hành vi lần này thì lần sau những hành động như vậy có thể xảy ra ở mức độ cao hơn.

Lắng nghe trẻ, khi trẻ tin tưởng bạn và tâm sự với bạn thì không nên coi thường những suy nghĩ của trẻ và nếu không tiện thì bạn có thể đưa trẻ đi tư vấn chuyên gia tâm lý hoặc khám bác sĩ chuyên khoa tâm thần.

Đưa trẻ đi khám bác sĩ khi thấy trẻ có những biểu hiện của trầm cảm và nên nhớ một điều là bệnh trầm cảm có thể chữa được.

Hướng dẫn trẻ biết cách xử lý trước những tình huống không đạt được như ý muốn của mình, trong cuộc sống ai cũng có lúc thất bại và mình cần phải vượt qua được những thất bại đó rút ra kinh nghiệm từ sự không thành công đó để bước tiếp trong cuộc sống, không nên bi quan, chán nản. Và sự nghiệp học tập là một cuộc chạy đua đường dài, cần phải có sự thích nghi và không nên nản chí khi kết quả chưa đạt được như mong muốn.

BS. TRỊNH THỊ BÍCH HUYỀN



Triệu chứng nghiêm trọng ở trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh

Dưới đây là những triệu chứng không thể bỏ qua ở trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh.

1. Sốt

Trẻ nhỏ không nên bị sốt trong 3 tháng đầu. Nếu bé bị sốt trên 39oC, bạn nên đưa trẻ đi khám ngay. Không chỉ vì bản thân sốt đã là nguy hiểm mà còn vì ở trẻ sơ sinh, sốt có thể là dấu hiệu duy nhất báo hiệu trẻ bị nhiễm khuẩn nghiêm trọng.

Khi trẻ qua 3 tháng tuổi, bạn có thể theo dõi một ngày trước khi đưa trẻ đi khám.

Nếu trẻ bị sốt kéo dài 24 giờ và không kèm theo các triệu chứng cảm lạnh thì cần được đánh giá. Theo dõi biểu hiện của trẻ để quyết định có đưa trẻ đi khám hay không.

Mức nhiệt khi sốt không phải là yếu tố quyết định, mà biểu hiện của trẻ mới quan trọng, cách trẻ phản ứng với bạn, cách trẻ nhìn bạn, mọi cử động hoạt động của chúng. Những đứa trẻ thông thường hiếu động, nay chỉ nằm trên giường rên rỉ, đó là sự thay đổi lớn về hành vi.

trieu chung, tre so sinh, sot la trieu chung khong the bo qua o tre so sinh

Sốt là một triệu chứng không thể bỏ qua ở trẻ sơ sinh

2. Vàng da

Trẻ sơ sinh thường bị vàng da, có thể biểu hiện là vàng da, vàng mắt. Tình trạng này xuất hiện khi gan của trẻ không hoạt động tốt, vì vậy không thể phân hủy bilirubin trong máu.

Trong phần lớn các trường hợp, vàng da là nhẹ và có thể tự biến mất. Các bác sĩ sẽ kiểm tra năng lượng cho trẻ trước khi bạn mang trẻ về nhà từ bệnh viện và vài ngày sau lần kiểm tra đầu tiên. Ngoài ra, nếu bạn nhận thấy da trẻ có màu vàng, hãy đưa trẻ đi khám.

Trong một số trường hợp, ăn bổ sung giúp giảm vàng da. Trẻ cũng có thể cần tiếp xúc với ánh sáng đặc biệt để loại bỏ bilirubin trong máu.

3. Phát ban

Hầu hết các vết phát ban sẽ nhạt màu đi khi bạn ấn ngón tay lên chúng. Nếu trẻ có những đốm đỏ nhỏ trên ngực, lưng, cánh tay, cẳng chân mà không nhạt màu đi khi bạn ấn vào, cần đưa trẻ đi khám bác sĩ ngay. Phát ban dạng này có thể là dấu hiệu của một bệnh lý nghiêm trọng như viêm màng não hoặc bệnh về mạch máu.

Ban đỏ không mờ xuất hiện trên mặt hoặc cổ của trẻ ít gây lo lắng nếu trẻ bị ho hoặc sốt nhưng dù sao bạn cũng nên đưa trẻ đi khám.

4. Nôn mửa hoặc tiêu chảy

Nếu trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ bị nôn hoặc tiêu chảy, cần đưa trẻ đi khám bác sĩ sớm. Một dấu hiệu đáng báo động là trẻ không tiểu tiện vì như vậy là bé có thể bị mất nước.

Trẻ lớn tuổi có thể chịu được tình trạng tiêu chảy trong 1 ngày hoặc nhiều hơn nhưng trẻ sơ sinh có thể bị mất nước trong 12 giờ bị tiêu chảy nặng. Đưa trẻ đi khám ngay khi thấy nôn hoặc tiêu chảy có dấu hiệu lạ (có máu hoặc dịch mật khi nôn hoặc có máu hay chất nhầy trong phân).

5. Các vấn đề hơi thở

Trẻ gặp vấn đề về hơi thở thường hít, thở rất nhanh và rút lõm lồng ngực. Nếu bạn thấy trẻ bị rút lõm lồng ngực trong từng hơi thở, bạn cần đưa trẻ đi khám.

Nếu con bạn không thể ngừng ho, trẻ cũng cần đi khám vì đây là dấu hiệu trẻ bị bệnh hen hoặc hít phải vật lạ.

6. Đau đầu

Trẻ sơ sinh không thể cho bạn biết trẻ bị đau đầu nhưng trẻ nhỏ thì có thể.

Trẻ nhỏ có thể ôm đầu liên tục hoặc sử dụng những từ ngữ mô tả cơn đau. Đau đầu là tình trạng hiếm gặp ở trẻ nhỏ vì vậy chắc chắn cần phải tìm nguyên nhân. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng đau nửa đầu có thể liên quan đến đau bụng, nhưng có thể là do nguyên nhân khác như viêm xoang.

7. Khóc không ngừng

Nếu trẻ nhỏ hoặc trẻ sơ sinh khóc cả ngày và bạn không thể dỗ nín, hãy quan sát tìm hiểu những nguyên nhân bên ngoài như có sợi tóc quấn quanh ngón chân hoặc do rối loạn bên trong như có vấn đề về dạ dày.

BS Thu Vân/Univadis

(theo WebMD)

6 dấu hiệu tiết lộ nguy cơ bệnh tật

Hói đầu - Nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến cao hơn

Nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Journal of Clinical Oncology cho thấy, nam giới hói đầu có thể liên quan đến tăng nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến (TLT). Cụ thể, những người đàn ông sớm có dấu hiệu hói đầu hay rụng tóc có thể gia tăng nguy cơ tử vong do ung thư TLT. Việc nghiên cứu được tiến hành trên 4.000 người đàn ông Mỹ trong độ tuổi từ 25 - 74 bị hói đầu từ vừa đến nặng. Kết quả cho thấy, những người đàn ông hói toàn bộ đầu tăng 56% nguy cơ tử vong do ung thư TLT trong khoảng thời gian 21 năm so với những người đàn ông không có dấu hiệu bị hói hay rụng tóc. Những người hói ở mức độ vừa phải nguy cơ mắc bệnh ung thư TLT cao hơn 83% so với những người không hói.

Nam giới bị hói đầu có nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến cao hơn người thông thường.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, có thể do lượng hormon nam như testosteron - là một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển của bệnh. Dihydrotestosterone (DHT) là một nội tiết tố nam được sản xuất từ testosteron bởi một enzym gọi là 5a reductase. DHT được tìm thấy trong nang lông có liên quan đến rụng tóc. Quá nhiều DHT trong TLT có thể gây ra tình trạng TLT bất thường.

Nam giới thấp bé có nguy cơ đau tim cao

Đây là kết quả rút ra của các nhà khoa học từ Quỹ Tim mạch Anh sau khi tiến hành nghiên cứu gần 200.000 nam giới. Nghiên cứu cho thấy, cứ tăng thêm 5.3cm chiều cao, cơ hội mắc bệnh mạch vành ở nam giảm 13,5%. Nguyên nhân lý giải cho chiều cao thấp bé chủ yếu đến từ chế độ ăn uống và lối sống. Chế độ ăn uống nghèo dinh dưỡng, hút thuốc lá thường xuyên ngăn cản lưu lượng máu trong động mạch, làm tích tụ mảng bám trong não và tim từ đó gây ra những cơn đau tim và đột quỵ.

Không nhìn vào mắt khi nói chuyện - Nguy cơ tự kỷ

Đó là phát hiện từ nghiên cứu kéo dài trong nhiều năm của các nhà khoa học ĐH Yale (Anh) được công bố trên tạp chí Biological Psychiatry. Trong nghiên cứu này, những đứa trẻ 6 tháng tuổi được xem một loạt video trình chiếu các khuôn mặt. Các nhà khoa học đã sử dụng công nghệ đánh dấu mắt để đánh dấu và vẽ lại chính xác những vị trí mà mắt các bé chú ý đến. Khi những đứa trẻ này lên 3 tuổi, chúng được đánh giá lại và chia thành các nhóm dựa trên chẩn đoán rối loạn tự kỷ, các hình thức chậm phát triển khác hoặc phát triển thông thường. Kết quả, trẻ mắc chứng tự kỷ không chỉ ít nhìn vào các khuôn mặt hơn trẻ khác mà khi được công khai một khuôn mặt đang nói, chúng cũng không nhìn vào mắt và miệng của người đó.

Đỏ mặt gay gắt khi uống rượu dễ bị ung thư

Nhiều người mặt đỏ lên vì uống vài chén rượu, nhưng điều này cũng là dấu hiệu của nguy cơ ung thư thực quản. Theo Brooks, tác giả nghiên cứu thì nhờ có enzym trong gan, rượu sẽ được chuyển hóa từ hóa chất acetaldehyde mang tính độc hại - một dạng có thể gây ung thư sang chất acetate vô hại. Những người có phản ứng đỏ bừng mặt có sự thiếu hụt di truyền enzym chuyển hóa rượu ALDH2, có thể dẫn đến sự tích tụ các chất acetaldehyde độc hại. Đỏ mặt là do rượu làm cho mạch máu giãn nở, nhưng chính lúc đó có thể hóa chất độc hại đã tích tụ làm căng mạch máu. Ở một số người, do có hai bản sao của gen thiếu hụt này mà các triệu chứng trở nên nghiêm trọng khiến họ không thể chịu được một giọt rượu nào. Còn những ai chỉ có một bản sao của gen này thường học cách sống chung với tim đập nhanh và mặt đỏ bừng.

Ngáp nhiều - Dấu hiệu bệnh đa xơ cứng

Ngáp là hành động mà chúng ta không thể tự chủ được. Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều giả thuyết về nguyên nhân gây ngáp. Nhưng ngáp nhiều cũng là dấu hiệu của một hoặc nhiều chứng bệnh như đa xơ cứng, bệnh thoái hóa các thần kinh vận động của cột sống, bị nhiễm phóng xạ, bệnh Parkinson... Ngáp ít hơn thông thường xảy ra trên những người bị chứng tâm thần phân liệt.

Nhóm máu cảnh báo nguy cơ ung thư tuyến tụy

Theo một nghiên cứu được tiến hành tại Đại học Dược Harvard, những người có nhóm máu A, B hay AB có khả năng mắc ung thư tuyến tụy cao hơn 44% so với người có nhóm máu O. Điều này cho thấy, gen quyết định nhóm máu cũng mang theo nguy cơ của bệnh ung thư tuyến tụy.

Minh Huệ

((Theo Cracked))

Bệnh tay chân miệng: không nổi bóng nước sao bệnh vẫn nặng?

Nguyễn Phước T, 12 tháng, nhà ở xã Mỹ Hạnh Đông, Cai Lậy, Tiền Giang, bị bệnh một ngày, khởi đầu ói, sau đó đừ, thở  mệt nên gia đình đưa em vào bệnh viện liền (hôm 18/11). Bác sĩ khám thấy bé ngủ gà, thở nhanh nông, nhịp tim rất nhanh 198 lần/phút dù lúc đó bé đang nằm yên, huyết áp cao. Bé được chẩn đoán là bệnh tay chân miệng (TCM) độ 3, nên bác sĩ khẩn trương tiếp hơi cho bé, truyền thuốc vào tĩnh mạch, chuẩn bị máy thở…. Khi bé tạm ổn, các bác sĩ cố gắng tìm kiếm dấu hiệu bóng nước và loét miệng của cháu, nhưng tìm mãi vẫn không thấy, chỉ có một nốt ban màu hồng bé xíu ở kẽ ngón tay như vết ruồi son. Mẹ cháu cho biết là nó mới nổi lên, chứ hồi xưa đến giờ không có nốt đỏ nhu vậy. Nhờ nốt đỏ này (chuyên môn gọi là hồng ban) mà việc chẩn đoán bệnh tay chân miệng được thêm chắc chắn. Sau đó cháu được lấy phân, dịch họng để nuôi cấy tìm siêu vi trùng gây bệnh.

Bệnh tay chân miệng: không nổi bóng nước sao bệnh vẫn nặng? 1

Đây là một trường hợp bệnh TCM nặng cấp tính, bệnh diễn biến xấu nhanh chóng mà chưa kịp xuất hiện đầy đủ các triệu chứng như các bệnh TCM thông thường. Có lẽ do siêu vi gây bệnh khi vào hệ tiêu hóa, nó phát triển nhanh trong ống tiêu hóa, sau đó siêu vi vào máu, nó chưa kịp đi đến da và niêm mạc để gây nổi bóng nước, mà trực diện đi thẳng đến não, hành não, trung tâm điều hòa hô hấp, tim mạch, vừa gây tổn thương trực diện lên tế bào não, vừa gây nên chuỗi phản ứng miễn dịch của cơ thể khiến người bệnh bị viêm não-màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp.

Thực tế cho thấy bệnh nhân bị Enterovirus 71 dễ gây biến chứng tối cấp, nguy hiểm  mà ít nổi bóng nước, trong khi coxsackievirus A16 lại có nhiều bóng nước hơn, nhưng lại diễn biến lành tính, ít gây biến chứng, tự khỏi sau 7 - 10 ngày.

Như vậy khi nào bà con thấy bé bị nổi bóng nước nhiều thì cũng đừng hốt hoảng, hoặc thấy nổi bóng nước ít mà chủ quan lơ là, hãy bình tĩnh đem đến cơ sở y tế khám, tiến hành việc theo dõi và chăm sóc con cháu mình theo đúng sự hướng dẫn của thầy thuốc.                                        

BS NGUYỄN THÀNH ÚC

Đối diện với những nguy cơ năng lượng khi đi máy bay

Nguy cơ cảm lạnh cao gấp 100 lần

Tiến sĩ Richard Dawood, chuyên gia y tế du lịch Telegraph cho biết, hiện tượng ẩm bên trong một cabin máy bay làm tăng tính dễ tổn thương của cơ thể và dễ bị lây nhiễm virus, vi khuẩn trong không khí, dễ bị cảm lạnh và nhiễm khuẩn đường hô hấp. Những hành khách bị ho do cảm lạnh có thể lây nhiễm cho những người xung quanh họ ngay lập tức, trong một số ít trường hợp có thể lây lan bệnh nặng hơn như bệnh lao. Theo Cơ quan hàng không dân dụng Anh, tổng khối lượng của không khí trên một chiếc máy bay được làm sạch mỗi 2-3 phút, thường xuyên hơn so với các tòa nhà có máy lạnh (không khí được thay đổi mỗi 5-10 phút) nhưng nguy cơ bị cảm lạnh khi ngồi gần một người bị hắt hơi, thở khò khè trong một chuyến bay vẫn cao gấp 100 lần so với môi trường thông thường.

Mách nhỏ: Sử dụng nước muối xịt mũi để giữ cho mũi giữ được độ ẩm trong một chuyến bay dài sẽ giúp làm giảm nguy cơ lây truyền bệnh trong không khí

may bay, di may bay de bi cam lanh

Khả năng nhiễm khuẩn cao

Những phát hiện của Đại học Auburn ở Alabama, Mỹ vào năm 2014 cho thấy các vi khuẩn gây bệnh có thể tồn tại cho đến một tuần bên trong cabin máy bay, trên bề mặt như túi ghế, bàn khay, tấm che cửa sổ và tay vịn. Staphylococcus aureus (MRSA), một loại vi khuẩn có thể gây nhiễm khuẩn, bệnh ngoài da, viêm phổi và nhiễm khuẩn huyết sống lâu nhất (168 giờ). Escherichia coli (E. coli), mà có thể gây ra nhiễm khuẩn đường tiết niệu, bệnh đường hô hấp và tiêu chảy, đã được tìm thấy có thể tồn tại trong 96 giờ. Theo một nghiên cứu gần đây, nước được lưu trữ trên máy bay đã được tìm thấy có dấu vết của E. coli và vi khuẩn có hại khác. Đáng lo ngại là cà phê và trà được pha bằng nước này nhưng thường không đạt tới nhiệt độ đủ nóng để tiêu diệt vi khuẩn E. coli. Ngoài ra, một số máy bay đôi khi đổ đầy bể chứa nước tại sân bay nước ngoài, nơi mà chất lượng nước có thể không được tin cậy. Ngoài ra, nhà làm sạch cũng được nhấn mạnh như là mối đe dọa ẩn chứa mầm bệnh. Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát dịch bệnh Mỹ (CDC) đã chỉ ra nhà làm sạch là một trong những "điểm nóng" rất quan trọng làm lây lan bệnh lý hô hấp trong sự bùng nổ của H1N1 và virus cấp tính viêm đường hô hấp (SARS) nghiêm trọng.

Mách nhỏ: Để tránh nguy cơ nhiễm khuẩn, bạn nên mang theo khăn giấy tiệt khuẩn để lau tay trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn hay sau khi đi làm sạch. Nên xem xét nguồn gốc của bất kỳ loại nước hoặc thực phẩm bạn được cung cấp trên máy bay.

Thiếu oxy

Thông thường, cabin máy bay chỉ có 75% áp suất khí quyển thông thường. Thiếu oxy trong máu có thể dẫn đến cảm giác chóng mặt, mệt mỏi và đau đầu. Tuy nhiên, có lẽ các nguy cơ năng lượng lớn nhất trên một chiếc máy bay là khi một chuyến bay bị trì hoãn và các hệ thống thông gió được tắt. TS. Dawood cho biết, đã xảy ra những sự kiện nổi tiếng xảy ra trên mặt đất khi chuyến bay bị trễ như một ổ dịch cúm lớn sau một sự chậm chễ kéo dài với các hệ thống thông gió bị tắt.

Mất khả năng nếm và nghe

Một phần ba số vị giác của bạn được cho bị tê liệt khi ở trên cao, trong khi đó áp suất không khí cũng ảnh hưởng đến tai, các xoang và vị giác. Điều này ảnh hưởng lớn đến việc cảm nhận chất lượng các bữa ăn trên máy bay. Hãng hàng không Anh đã khắc phục hiện tượng này cho hành khách bằng cách sử dụng “giác quan cơ bản thứ năm” cùng với vị ngọt, chua, mặn và đắng.

may bay, Nguy co khi di may bay- mat kha nang nghe va nem

Chịu ảnh hưởng của bức xạ vũ trụ

Trong một chuyến bay 7 giờ từ New York đến London, hành khách được tiếp xúc với bức xạ vũ trụ gần như một liều X- ray. Từ thực tế này, Chính phủ Anh còn lo ngại hành khách trên chuyến bay đường dài có thể bị ảnh hưởng từ các tia vũ trụ nguy hiểm đến từ mặt trời nên đã yêu cầu cấp bách điều tra về ảnh hưởng của tăng một lượng lớn bức xạ mặt trời đối với các chuyến bay. Bên cạnh đó, các báo cáo của Cơ quan Y tế công cộng Anh (PHE) cảnh báo rằng một cơn bão mặt trời nhiều khả năng ảnh hưởng đến hành khách nếu họ đang đi du lịch bằng đường hàng không trên các tuyến xuyên đại dương. Hơn thế nữa, các cơn bão mặt trời có thể gây ra mưa bức xạ và gây ra vấn đề năng lượng không chỉ trong không khí mà còn ở mặt đất.

Gia tăng một số nguy cơ khác

Thay đổi áp suất không khí gây ra một gia tăng của khí trong cơ thể , dẫn đến đầy hơi , táo bón và các vấn đề tiêu hóa khác có liên quan. Trong khi đó, việc thiếu các hoạt động trong một chuyến bay có thể gây ra sự tích tụ của máu xung quanh chân, nâng cao nguy cơ bị huyết khối tĩnh mạch sâu.

Lê Thu Lương

(Theo MSN)

Nhổ răng sữa sớm, nên hay không?

Lô Thị Lê (Cao Bằng)

Răng sữa đóng vai trò quan trọng trong việc nhai, nói, thẩm mỹ và tạo chỗ cho những chiếc răng vĩnh viễn sau này. Khi răng sữa bắt đầu lung lay, không nên nôn nóng nhổ sớm vì việc này sẽ khiến trẻ đau, chảy máu nhiều và dễ gây ám ảnh làm trẻ sợ việc khám, chữa răng sau này. Ngoài ra, sẽ làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ của khuôn mặt, giảm sức nhai, sự tương tác giữa hàm trên và hàm dưới. Đặc biệt, sẽ làm mất định hướng của răng vĩnh viễn dẫn đến mọc lệch khỏi vị trí ban đầu đồng thời làm hẹp cung hàm khiến răng vĩnh viễn bị thiếu chỗ và mọc chen chúc vào nhau, phá vỡ cấu trúc răng của trẻ.

Nhổ răng sữa sớm sẽ làm giảm sức nhai, ảnh hưởng đến thẩm mỹ...

Vì vậy, không nên nhổ răng sữa sớm và các bậc cha mẹ cũng cần khuyên trẻ đừng cố lắc mạnh để bẻ răng sữa khi chúng mới bắt đầu lung lay.

Thời gian từ khi bắt đầu lung lay đến khi rụng một chiếc răng sữa thường mất vài tháng. Khi răng vĩnh viễn đã sẵn sàng thay thế, chiếc răng sữa sẽ càng lung lay nhiều. Đến khi răng gần như lỏng ra thì đứa trẻ có thể tự lắc nhẹ, tự lấy chiếc răng ra hoặc nhờ sự trợ giúp của bố mẹ. Với cách lấy răng lung lay tự nhiên như vậy, sẽ ít chảy máu và giảm đi cảm giác đau đớn ở trẻ. Với lượng máu nhỏ bị chảy ra, có thể dùng bông y tế ấn vào chỗ răng rụng trong vài phút để cầm máu.

Bác sĩ Đình Hải

Những điều bà mẹ cần biết khi đưa con đi tiêm chủng

Tiêm chủng là cách tốt nhất để phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho trẻ em. Trẻ cần được tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch để phòng tránh những bệnh tật nguy hiểm như bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan b, bại liệt, sởi và viêm phổi/viêm màng não mủ do Hib.

Những điều bà mẹ cần biết khi đưa con đi tiêm chủng 1

Các bậc cha mẹ cần giữ sổ và phiếu tiêm chủng đầy đủ để theo dõi lịch tiêm chủng của con mình.

Các vắc-xin sử dụng trong chương trình tiêm chủng là an toàn. Để chăm sóc năng lượng trẻ tốt hơn khi đi tiêm chủng, các bà mẹ cần lưu ý:

- Các bà mẹ cần chủ động thông báo về tình trạng năng lượng của con mình như: đang ốm, sốt, sinh non, tiền sử dị ứng, có phản ứng mạnh với lần tiêm chủng trước và đề nghị được cán bộ y tế kiểm tra năng lượng của con mình trước khi tiêm.

- Sau tiêm chủng trẻ có thể có một số biểu hiện thông thường như: sốt, đau hoặc sưng tấy tại chỗ tiêm, quấy khóc... Các bà mẹ nên chú ý đến trẻ hơn và đưa trẻ tới cơ sở y tế nếu thấy các phản ứng kéo dài trên 1 ngày.

- Khi trẻ sốt cao, các bà mẹ có thể cho trẻ dùng thuốc hạ sốt nhưng phải có chỉ định và hướng dẫn của cán bộ y tế.

- Những phản ứng nặng sau tiêm chủng thường hiếm gặp, như sốc phản vệ với tỷ lệ 1/1 triệu liều vắc-xin và sẽ qua khỏi nếu được phát hiện và xử trí kịp thời.

- Nếu cha mẹ không yên tâm về tình trạng năng lượng của con mình sau khi tiêm cần trực diện đến gặp cán bộ y tế để được tư vấn cách chăm sóc trẻ.

- Nếu trẻ có các dấu hiệu bất thường như sốt cao, quấy khóc kéo dài, co giật, bỏ bú, khó thở, tím tái... các bà mẹ cần đưa NGAY trẻ tới cơ sở y tế.

Vì sự an toàn của trẻ, các bà mẹ cần theo dõi trẻ sau tiêm chủng. Trẻ cần được theo dõi 30 phút tại điểm tiêm chủng và tiếp đến theo dõi tại nhà ít nhất 24 giờ sau tiêm chủng.

Tiêm chủng - niềm êm đẹp của trẻ thơ

VIỆN làm sạch DỊCH TỄ  TRUNG ƯƠNG DỰ ÁN TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG QUỐC GIA